Ở bảng A vòng bán kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần 12 – 2026 đang diễn ra tại Hội trường Văn khoa – Cơ sở 1, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, nhiều câu chuyện về của các địa phương đã được kể qua phần trình bày của các dự án: ứng dụng AI hỗ trợ nông dân nhận diện bệnh trên cây trồng; xoài Đồng Tháp được chế biến thành nhiều sản phẩm; tinh bột chuối được phát triển thành sản phẩm hỗ trợ sức khỏe; rau từ vùng trồng ở Tây Ninh tìm đường vào các khu chung cư TP.HCM; thốt nốt Tịnh Biên được đưa vào lon; lá trầu không trở thành nguyên liệu cho màng bảo quản nông sản…
Điểm chung của những dự án này là đều bắt đầu từ một tài nguyên, một vấn đề hoặc một nhu cầu có thật. Nhưng qua phần chất vấn của ban giám khảo, nhiều câu hỏi lớn hơn dần hiện ra, một ý tưởng tốt chưa đủ để trở thành một mô hình kinh doanh tốt.
Dự án phải chứng minh được sản phẩm khác biệt ở đâu, dữ liệu có đáng tin hay không, khách hàng là ai, họ có sẵn sàng trả tiền và câu chuyện của sản phẩm có đủ sức để đi cùng doanh nghiệp trên thị trường hay không.
Từ AI cho nông nghiệp đến một chữ “tin”
Một trong những phần chất vấn kéo dài là dự án EA Agri – Hệ sinh thái nông nghiệp thông minh của nhóm Phan Đăng Huy, Nguyễn Anh Giảng, Đặng Văn Chung.
Nhóm xây dựng ứng dụng sử dụng mô hình AI lớn, kết hợp với bộ dữ liệu riêng về nông nghiệp. Hệ thống được thiết kế để đọc các tài liệu chuẩn và trả lời câu hỏi của người nông dân dựa trên dữ liệu đã có. Nếu không có thông tin trong bộ dữ liệu, hệ thống được thiết kế không trả lời. Nhóm cũng đang xây dựng bộ dữ liệu hình ảnh để AI có thể nhận diện bệnh trên cây trồng, đồng thời hợp tác với đối tác tại Đài Loan và một công ty ở Hà Lan về chuyên môn chẩn đoán.
Trước khi ra mắt, nhóm thử nghiệm với 25 người thân. Đến thời điểm thi, ứng dụng có 143 người dùng, nhưng vẫn đang ở gói trải nghiệm, chưa thu phí chính thức.
Ông Nguyễn Khắc Minh Trí – CEO MimosaTek, hỏi nhóm đang sử dụng mô hình AI nào mà đặt vấn đề sâu hơn về cách xây dựng dữ liệu địa phương, cách kiểm chứng hình ảnh và đội ngũ chuyên môn đứng phía sau những câu trả lời của máy.
“Một ứng dụng có thể nhận diện hình ảnh cây trồng không đồng nghĩa với việc câu trả lời đó đã đủ chính xác để người nông dân quyết định xử lý bệnh, chọn thuốc hay thay đổi cách chăm sóc”, ông Trí chia sẻ với dự án.
Bà Hồ Ngọc Phương Thảo, chuyên gia chứng nhận tiêu chuẩn Thực phẩm, gợi ý một hướng mà nhóm có thể đào sâu về nhật ký xử lý bệnh và quá trình cây trồng trải qua từng giai đoạn. Theo bà, đây là phần rất đáng giá bởi trong quá trình đánh giá một số tiêu chuẩn GAP, việc ghi nhận xử lý thuốc bảo vệ thực vật là một nội dung được quan tâm.
Và bà Trần Nguyễn An Ninh, chuyên gia Marketing, cô đọng vấn đề của dự án bằng một chữ “TRUST – niềm tin”.
Với một sản phẩm dựa vào AI, niềm tin không đến từ việc công nghệ mới hay ứng dụng có nhiều tính năng. Người dùng phải biết vì sao câu trả lời của ứng dụng đáng tin, dữ liệu đến từ đâu và ai chịu trách nhiệm về chất lượng của nó.
Đây cũng là một trong những vấn đề mà dự án phải giải quyết trước khi nói đến chuyện mở rộng thị trường.
Không phải cứ có sản phẩm là có khác biệt
Câu chuyện của dự án PGS Mango Loop – Chuỗi giá trị xanh bền vững từ Đồng Tháp lại nằm ở một bài toán khác, đó là sản phẩm có thực sự khác biệt trên một thị trường đã có nhiều người làm hay chưa?
Nhóm xuất phát từ câu chuyện người tiêu dùng quan tâm thực phẩm xanh, sạch, an toàn, có nguồn gốc rõ ràng và thực trạng xoài được mùa mất giá. Từ nguồn nguyên liệu của các hộ nông dân, nhóm phát triển xoài sấy dẻo, kem xoài 4 vị và trà xoài; phụ phẩm, phế phẩm được tận dụng làm phân hữu cơ cho vườn rau.
Dự án đã có doanh thu gần 180 triệu đồng năm 2024, hơn 300 triệu đồng năm 2025 và gần 200 triệu đồng trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá sản phẩm xoài sấy dẻo được đưa ra ở mức 50.000 đồng một túi 40g, hạn sử dụng 4 tháng.
Những con số này cho thấy sản phẩm đã bước qua giai đoạn chỉ nằm trên giấy. Nhưng khi ban giám khảo hỏi về lợi thế cạnh tranh, câu chuyện lại trở nên khó hơn.
Bà Hồ Ngọc Phương Thảo đặt vấn đề về hạn sử dụng 4 tháng, trong khi việc đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi thường đòi hỏi thời hạn bảo quản dài hơn. Nhóm cho biết không tập trung vào siêu thị mà đi theo mô hình liên kết với giáo dục, các điểm bán tại trường, khách hàng thân thiết, điểm bán nông sản tử tế và thương mại điện tử.
Ban giám khảo cho rằng, dự án cần trả lời được xoài sấy dẻo của nhóm khác gì so với những sản phẩm xoài sấy dẻo khác?
Bên cạnh đó, các thành viên khác trong Ban giám khảo lưu ý rằng việc nói sản phẩm an toàn không thể trở thành lợi thế duy nhất, bởi những sản phẩm khác khi đưa ra thị trường cũng phải tuân thủ các quy định về an toàn.
Bà Trần Lan Anh từ GreenHubAsia, nhìn dự án ở một góc khác. Nếu nhóm thực sự đang xây dựng một chuỗi từ nông hộ đến người tiêu dùng, thì câu chuyện đáng kể không nhất thiết phải nằm ở túi xoài sấy. Nó có thể bắt đầu từ người nông dân, giống xoài, vùng nguyên liệu và sinh kế của gia đình họ.
Khi đó, sản phẩm cuối cùng chỉ là điểm chạm của một câu chuyện lớn hơn, người tiêu dùng mua một sản phẩm, đồng thời biết mình đang góp phần duy trì sinh kế của người trồng xoài.
Đó là lúc “chuỗi giá trị” không còn chỉ nằm trong sơ đồ kinh doanh mà trở thành câu chuyện có thể nói với thị trường.
Khi tài nguyên bản địa gặp bài toán thị trường
Ở An Giang, dự án tinh bột chuối lại đi theo một hướng khác. Nhóm lựa chọn chuối xiêm xanh làm nguyên liệu chính, phát triển sản phẩm từ tinh bột chuối có hàm lượng tinh bột kháng cao, đồng thời kết hợp thêm các thành phần tự nhiên như gấc và nghệ. Nhóm xác định phải giáo dục thị trường về khái niệm tinh bột kháng, trước khi mở rộng khách hàng.
Nhưng chính việc sản phẩm liên quan đến sức khỏe khiến yêu cầu về bằng chứng trở nên quan trọng. Bà Hồ Ngọc Phương Thảo lưu ý về quy mô thử nghiệm. Theo phần trao đổi tại cuộc thi, một kết quả test đáng tin cậy cần có cỡ mẫu lớn hơn, đồng thời phải chia nhóm tuổi phù hợp.
Còn giám khảo Trần Nguyễn An Ninh cho rằng, vấn đề lại nằm ở định vị. Nếu chuối là nguyên liệu và cũng là điểm tạo ra sự khác biệt, dự án cần đào sâu chính câu chuyện của chuối xiêm xanh, tinh bột kháng, đường ruột và những giá trị mà sản phẩm muốn theo đuổi, thay vì để quá nhiều thành phần khác làm loãng định vị.
Từ luống rau đến căn hộ
Một câu chuyện khác rất gần với đời sống đô thị là dự án HAR – Rau Quê của Trịnh Nguyễn Hồng Phúc. Dự án xuất phát từ một nghịch lý, nông dân muốn trồng rau an toàn nhưng thiếu đầu ra, trong khi người tiêu dùng muốn mua rau sạch với giá hợp lý nhưng vẫn có những hoài nghi về chất lượng.
Giải pháp của nhóm là rút ngắn chuỗi từ nông trại đến bàn ăn. Rau được liên kết từ nông dân tại Hòa Phú, Tây Ninh, sáng thu hoạch, đưa về điểm tập kết để sơ chế, đóng gói rồi giao cho khách. Nhóm không mở cửa hàng mà nhận đơn trước qua mạng, sau đó mới thu hoạch và giao hàng để giảm tồn kho và tối ưu vốn. Kênh bán hàng dự kiến dựa vào cộng tác viên ngay tại các khu chung cư.
Một combo Rau Quê có giá 250.000 đồng, gồm 8 loại rau đủ dùng gần một tuần theo mùa. Nhóm cũng tính đến việc đưa thêm trứng sạch, cá đồng vào combo. Đây là mô hình không đòi hỏi phải xây một cửa hàng lớn ngay từ đầu.
Nhưng khi đi vào thực tế, bài toán lại xuất hiện ở những điểm rất cụ thể, được các giám khảo đưa ra là pháp lý khi phân phối tại chung cư, chi phí vận hành, cách định vị “rau sạch” và bằng chứng cho lời cam kết đó.
Bà Hồ Ngọc Phương Thảo đặt vấn đề, nếu gọi là nông nghiệp sạch thì bằng chứng của cái sạch là gì? Theo phần trao đổi tại cuộc thi, chất lượng đất và quy trình canh tác đều phải được quan tâm.
Với dự án này, bài toán không phải làm sao để có thêm một loại rau. Bài toán là làm sao để người mua tin rằng bó rau được giao tới căn hộ của họ thực sự có một hành trình minh bạch từ nơi trồng đến bàn ăn.
Thốt nốt, lá trầu và câu chuyện đưa nguyên liệu đi xa hơn

Tại Tịnh Biên, Tri Tôn, An Giang, dự án Thốt nốt tươi đóng lon bắt đầu từ một nguồn tài nguyên rất đặc trưng của địa phương. Theo phần trình bày, khu vực này có hơn 100.000 cây thốt nốt. Người dân, trong đó có cộng đồng Khmer, gắn sinh kế với nghề làm đường nhưng thu nhập còn bấp bênh. Nhóm đưa công nghệ chế biến vào quả thốt nốt tươi, giữ độ tươi và phát triển sản phẩm đóng lon. Dự án hợp tác công nghệ với đối tác, đồng thời tận dụng vỏ thốt nốt làm chất đốt cho các lò nấu đường.
Ban giám khảo đánh giá cao bản chất sản phẩm nhưng hỏi người trình bày là anh Võ Văn Thành rằng người tiêu dùng mua lon thốt nốt về để làm gì? Câu trả lời của nhóm là trên tay ban giám khảo đã có những công thức pha chế và món ăn kèm với thốt nốt.
Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh gợi ý nhóm đưa những công thức này lên bao bì hoặc website, đồng thời suy nghĩ thêm về hình thức bao bì phù hợp với khách hàng trẻ và gia đình. Từ một nguyên liệu bản địa, câu chuyện vì thế chuyển sang câu chuyện sử dụng.
Cũng là tận dụng một nguồn nguyên liệu có giá trị chưa cao, dự án Latrako ở Cần Thơ lại chọn lá trầu không. Nhóm chiết xuất dược chất, tinh dầu từ lá trầu, kết hợp với chitosan để tạo thành màng sinh học bảo quản nông sản. Kết quả thử nghiệm được trình bày trên bưởi và ớt, với định hướng hướng tới thương lái, đơn vị thu mua và doanh nghiệp xuất khẩu trái cây.
Ở dự án này, ban giám khảo không dừng ở việc sản phẩm có thể giữ trái cây tươi hay không. Yêu cầu được đặt ra là phải kiểm định các chỉ tiêu vi sinh, kim loại nặng và đăng ký chất lượng.
Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí cho rằng nhu cầu bảo quản nông sản để vận chuyển xa là có thật, nhưng nhóm cần xác định rõ màng bảo quản sẽ được dùng cho loại vỏ bỏ đi như bưởi hay những loại quả có thể ăn cả vỏ. Bởi với nhóm quả ăn được, mùi vị và tinh dầu trầu không trở thành vấn đề cần tính đến.
Một lần nữa, câu hỏi không chỉ là “có làm được không”, mà là “làm được đến đâu và ứng dụng ở đâu”.
Khi vòng bán kết trở thành một phép thử
Dự án bánh lành tính của Nguyễn Anh Thể cũng gặp một bài toán tương tự. Sản phẩm được phát triển theo hướng plant-based, từ mâm xôi, gấc, hướng tới xu hướng ăn uống lành tính và loại trừ 7/8 nhóm chất gây dị ứng phổ biến. Giá bán được đưa ra là 69.000 đồng cho 100g.
Nhưng khi ban giám khảo đặt sản phẩm cạnh những sản phẩm cùng ngành, vấn đề xuất hiện ở cách so sánh. Bà Trần Nguyễn An Ninh cho rằng dự án đang so sánh khác phân khúc, khác kênh phân phối. Nếu muốn xây dựng một sản phẩm có dấu ấn, nhóm cần làm sâu hơn câu chuyện plant-based thay vì để định vị thay đổi qua quá nhiều hướng.
Đây là một câu chuyện đáng chú ý bởi nó cho thấy benchmark không chỉ là một con số về giá. Chọn sai đối thủ để so sánh có thể khiến doanh nghiệp nhìn sai cả vị trí của mình trên thị trường.
Một số hình ảnh:


Trần Quỳnh – Tường Anh













