– BÀI THAM DỰ CUỘC THI VIẾT: HÀNG VIỆT TRONG MẮT NGƯỜI TRẺ
Ba mẹ tôi sang Đài Loan làm việc từ khi tôi chưa tròn một tuổi. Từ đó đến nay, tôi sống cùng ông bà ở làng chài Nhân Thọ, tỉnh Quảng Trị.
Đầu tháng 6/2026, trong kỳ nghỉ hè, tôi có một tuần sang Đài Loan thăm ba mẹ. Đây không chỉ là một chuyến đi đến một nơi xa, mà còn là dịp hiếm hoi tôi được ở bên ba mẹ sau nhiều năm xa cách.
Và cũng trong chuyến đi ấy, giữa một cửa hàng sáng đèn nơi xứ người, tôi bất ngờ nhìn thấy vài chai nước mắm Việt Nam trên kệ.
Tôi dừng lại khá lâu.
Sắc hổ phách trong veo của nước mắm khiến tôi nhớ đến những điều rất quen thuộc ở quê nhà. Không rõ là mùi cá cơm đượm nắng, hương muối biển hay ngọn gió thường lùa qua hiên nhà. Chỉ biết lúc ấy, giữa Đài Loan cách quê hương hàng nghìn cây số, tôi bỗng nhớ da diết làng chài nơi mình đã lớn lên.
Hóa ra, biển đâu chỉ rì rầm ngoài khơi xa. Biển còn có thể theo người đi xa bằng một hương vị rất quen.
Từ những chai nước mắm trước mắt, tôi nhớ cánh đồng muối lấp lánh giữa ban trưa. Nhớ những mẻ cá cơm ánh bạc theo thuyền cập bến lúc rạng đông. Nhớ những chum mắm xếp dưới hiên nhà, sáng mở nắp hong nắng, chiều lại cẩn thận đậy kín.
Suốt những năm ba mẹ ở Đài Loan mưu sinh, tôi lớn lên trong vòng tay ông bà. Tuổi thơ tôi vì thế cũng lớn lên cùng vị mặn của biển.
Đó là vị mặn trong bát cơm chiều của bà, trên đôi tay nứt nẻ của ông sau mùa phơi cá, trong những cơn gió quanh mái ngói cũ. Những điều ấy thân thuộc đến mức tôi từng nghĩ đó chỉ là một phần rất bình thường của cuộc sống.
Mãi đến khi đi xa, tôi mới hiểu có những điều tưởng rất nhỏ bé nhưng lại ở trong ký ức của mình lâu đến thế.
Tôi nhớ những bữa cơm chiều của bà, bao giờ cũng có một bát mắm nhỏ. Chẳng cần mâm cao cỗ đầy, cọng rau muống luộc, trái cà pháo giòn hay con cá nướng cũng đủ làm gian bếp thơm lừng.
Bà móm mém cười: “Mắm nhà mình, mặn mà ngọt lắm con!”
Ngày còn bé, tôi chỉ biết xuýt xoa khen ngon. Lớn hơn một chút, tôi mới hiểu cái “ngọt” bà nói đâu chỉ là vị nơi đầu lưỡi. Trong đó còn có tình thương và sự chăm chút của bà dành cho cả gia đình.
Tôi cũng nhớ ông những chiều mây kéo giông. Tấm áo vắt ngang sào, ông lặng lẽ ra sân che chắn từng lu mắm. Hai bàn tay gầy guộc ôm lấy từng chiếc lu, đặt yên lu này rồi mới xoay sang lu khác. Vừa làm, ông vừa dặn: “Mắm mà rớt một giọt mưa là hỏng. Bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu mùa sương gió, người ta gửi cả vào đây…”
Ngày ấy, tôi chưa hiểu hết lời ông. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới nhận ra để có được một giọt nước mắm là cả một quá trình và công sức của những người sống cùng biển.
Bởi thế, đứng trước kệ hàng ở Đài Loan, chai nước mắm Việt với tôi không còn chỉ là một món hàng được bán ở nước ngoài.
Trong màu nước mắm ấy, tôi nhớ tiếng sóng ở quê, nhớ đôi tay ông trước giờ mưa đổ, nhớ bát mắm nhỏ trong bữa cơm của bà. Tôi chợt nhận ra một sản phẩm Việt Nam khi đi xa có thể mang theo nhiều thứ hơn mình nghĩ. Đó có thể là hương vị, ký ức, câu chuyện của một gia đình và cả một vùng quê.
Nhưng khi đứng trước những chai nước mắm Việt giữa rất nhiều sản phẩm đến từ các quốc gia khác, tôi cũng tự hỏi: Làm thế nào để một người nước ngoài nhìn vào chai nước mắm ấy và biết được câu chuyện phía sau nó?
Tôi nghĩ đây cũng là điều người trẻ chúng tôi có thể góp sức.
Chúng tôi lớn lên cùng điện thoại thông minh, mạng xã hội, video ngắn, mã QR và nhiều công nghệ mới. Vậy tại sao không dùng chính những công cụ ấy để kể câu chuyện của những sản phẩm truyền thống Việt Nam?
Tôi hình dung trên mỗi nhãn chai nước mắm có thêm một mã QR nhỏ. Chỉ cần một lần quét bằng điện thoại, người mua có thể nghe tiếng sóng ở một làng chài Việt Nam, xem những chiếc thuyền cá trở về lúc bình minh, tìm hiểu cá được ủ với muối như thế nào để tạo thành nước mắm.
Họ cũng có thể xem một đoạn phim ngắn về những người làm nghề, nghe câu chuyện của một gia đình gắn bó với biển hoặc biết thêm cách người Việt sử dụng nước mắm trong bữa ăn hằng ngày.
Khi đó, mã QR không chỉ dùng để cung cấp thông tin sản phẩm. Nó có thể trở thành một cánh cửa nhỏ để người tiêu dùng ở một đất nước khác bước vào câu chuyện văn hóa Việt Nam.
Bao bì cũng có thể kể chuyện theo cách riêng. Một vài chi tiết gợi nhớ chum sành, làng chài hay nguyên liệu bản địa; một hướng dẫn ngắn bằng nhiều ngôn ngữ về cách pha nước chấm hoặc sử dụng nước mắm trong món ăn… có thể giúp người mua hiểu sản phẩm hơn.
Tôi nghĩ người trẻ không nhất thiết phải làm những điều thật lớn lao mới có thể góp phần đưa hàng Việt đi xa. Chúng tôi có thể bắt đầu bằng những điều mình quen thuộc và làm tốt: kể một câu chuyện bằng video, thiết kế một hình ảnh, làm một trang web, sử dụng mạng xã hội hoặc nghĩ ra một cách mới để người tiêu dùng hiểu hơn về sản phẩm Việt.
Công nghệ có thể thay đổi từng ngày, nhưng câu chuyện phía sau một sản phẩm truyền thống vẫn còn đó.
Điều quan trọng là chúng ta kể câu chuyện ấy như thế nào.
Đêm ở Đài Loan, trước khi rời khỏi cửa hàng, tôi ngoái nhìn những chai nước mắm Việt thêm một lần nữa. Chúng đứng khiêm nhường giữa rất nhiều sản phẩm trên kệ hàng.
Nhưng với tôi, bên trong những chai nước mắm ấy có tiếng sóng Nhân Thọ, có dáng ông vội che những lu mắm trước cơn mưa, có bữa cơm của bà và có quê nhà mà tôi đã mang theo trong chuyến đi thăm ba mẹ.
Tôi đã đi một quãng đường rất xa từ Quảng Trị sang Đài Loan để gặp ba mẹ. Và ở nơi xa ấy, tôi bất ngờ nhận ra một phần quê hương cũng đã có mặt ở đó trước mình.
Có lẽ hàng Việt đi ra thế giới không chỉ bằng những chuyến tàu, những đơn hàng hay những kệ hàng ở nước ngoài. Hàng Việt còn có thể đi xa bằng những câu chuyện được thế hệ trẻ kể tiếp bằng ngôn ngữ của thời đại mình.
Với tôi, câu chuyện ấy bắt đầu từ một điều rất nhỏ: một chai nước mắm Việt giữa Đài Loan và vị mặn quê nhà mà dù đi xa đến đâu, tôi vẫn có thể nhận ra.
TÁC GIẢ: TRẦN BẢO NAM
  • Sinh năm: 12/10/2013
  • Học sinh lớp 8-3, Trường THCS Quảng Thọ, Quảng Trị