– BÀI THAM DỰ CUỘC THI VIẾT: HÀNG VIỆT TRONG MẮT NGƯỜI TRẺ
Khi nhắc đến hàng Việt, nhiều người thường nghĩ đến những thương hiệu lớn, nhà máy hiện đại hoặc sản phẩm trong siêu thị. Còn với tôi, hình ảnh đầu tiên hiện lên là chiếc xe đẩy bán phá lấu bò của mẹ, gần Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM.
Tôi lớn lên trong một khu phố mà nhiều người thân, họ hàng và hàng xóm sống bằng việc buôn bán nhỏ. Người bán đồ ăn sáng, người bán nước, người đẩy xe hàng rong, người kê một chiếc bàn trước cửa nhà để mưu sinh. Với họ, mỗi món hàng bán ra là tiền nhà, tiền thuốc, tiền học và hy vọng về một ngày mai đỡ vất vả hơn.
Từ nhỏ, tôi đã nhìn thấy công sức phía sau từng phần đồ ăn. Mẹ chuẩn bị nguyên liệu, nấu nướng, dọn hàng, chờ khách rồi thu dọn khi đêm xuống. Anh tôi nghỉ học từ lớp 6, sớm theo mẹ phụ bán rồi đi làm để hỗ trợ gia đình. Có những buổi trời đã về chiều, anh vẫn ghé lên phụ bán sau khi đi làm về. Có hôm mưa lớn, gió thổi tung tấm bạt, anh em tôi phải dùng sức giữ lại để che cho xe hàng và khách. Với người bán rong, một cơn mưa bất chợt có thể quyết định thu nhập của cả ngày của một gia đình.
Càng lớn, tôi càng nhận ra một khó khăn khác: nhiều người bán nhỏ đang bị bỏ lại phía sau khi xã hội bước nhanh vào thời đại số.
Ngày nay, một quán ăn có thể đông khách chỉ sau một video được chia sẻ rộng rãi. Nếu may mắn được người có sức ảnh hưởng ghé thăm, quán có thể được biết đến trong vài ngày. Ngược lại, những người không có cơ hội ấy vẫn ngồi chờ khách như nhiều năm qua. Có người phải bỏ tiền thuê người quay video dù không biết kết quả sẽ ra sao.
Chất lượng món ăn không còn là yếu tố duy nhất quyết định một người bán có thể tồn tại hay không. Khả năng xuất hiện trên Google Maps, mạng xã hội, ứng dụng giao đồ ăn và nền tảng đánh giá ngày càng quan trọng. Thế nhưng, nhiều người bán nhỏ không biết cách chụp ảnh sản phẩm, thiết kế thực đơn, tạo địa điểm trên bản đồ hay kể câu chuyện của mình.
Không phải họ không muốn bước vào thời đại số. Chỉ là chưa có ai nắm tay họ bước vào.
Trong mắt tôi, hàng Việt không chỉ là sản phẩm của các doanh nghiệp lớn. Hàng Việt còn là những món ăn, vật dụng và dịch vụ được tạo nên từ bàn tay, kinh nghiệm và văn hóa của người Việt. Một quán bún đậu mắm tôm ở Việt Nam và một quán do người Việt mở tại New York có thể cách nhau hàng chục nghìn kilômét, nhưng thực khách vẫn cảm nhận được hương vị Việt Nam. Giá trị Việt không chỉ nằm ở nơi sản phẩm được bán mà còn nằm trong câu chuyện và con người đã làm ra nó.
Tôi là một sinh viên yêu thích lịch sử nước nhà và luôn có tình cảm đặc biệt với những giá trị Việt Nam. Khi có thể lựa chọn, tôi thường ưu tiên sản phẩm do người Việt làm ra. Tôi tin nhiều bạn trẻ cũng có sự tự hào ấy. Nhưng sự ủng hộ hàng Việt không nên chỉ dành cho những cái tên đã nổi tiếng. Nó cũng cần đến với những người tạo ra sản phẩm mỗi ngày nhưng chưa có điều kiện xây dựng thương hiệu.
Người bán hàng rong và người làm sinh kế phi chính thức còn gặp khó khăn về địa điểm bán, trật tự đô thị, vệ sinh, thời tiết và nguy cơ phải di chuyển bất cứ lúc nào. Việc quản lý không gian công cộng là cần thiết, nhưng một thành phố hiện đại cũng cần con đường chuyển đổi phù hợp để người mưu sinh trên vỉa hè không bị bỏ lại.
Tôi thường tự hỏi: một sinh viên như tôi có thể làm được gì?
Với sức và lực của mình, tôi chưa thể làm những điều quá lớn, nhưng có thể bắt đầu từ những việc nhỏ và thiết thực: giúp một xe hàng có thực đơn rõ ràng hơn, tạo địa điểm trên Google Maps, chụp ảnh dễ nhìn hơn, lưu phản hồi của khách và kể câu chuyện thật phía sau món ăn.
Từ suy nghĩ ấy, tôi dành thời gian phát triển SUS Lab, một sáng kiến sinh viên hướng đến hỗ trợ người bán nhỏ, hộ kinh doanh vi mô và người làm sinh kế phi chính thức. Tôi mong SUS Lab kết nối kiến thức của sinh viên với nhu cầu thực tế của cộng đồng. Sinh viên kinh doanh có thể hỗ trợ lập kế hoạch; sinh viên marketing làm nội dung; sinh viên thiết kế chỉnh thực đơn; người quan tâm đến môi trường đề xuất cách giảm bao bì dùng một lần phù hợp với từng người bán.
Để những sáng kiến như vậy được nhân rộng, trường đại học, hiệp hội và địa phương có thể xây dựng chương trình hỗ trợ chuyển đổi số quy mô nhỏ. Người bán cần bộ công cụ dễ sử dụng, hướng dẫn bằng hình ảnh và ngôn ngữ đời thường. Mỗi nhóm sinh viên có thể đồng hành cùng một vài hộ kinh doanh trong một học kỳ, vừa học từ thực tế vừa tạo tác động cho cộng đồng.
Tôi tin người có cơ hội học tập không nên chỉ đứng ngoài quan sát khó khăn của người lao động. Kiến thức chỉ thật sự có giá trị khi có thể quay trở lại phục vụ cuộc sống.
Nếu một ngày có người hỏi tôi hàng Việt là gì, tôi sẽ không chỉ kể tên một thương hiệu nổi tiếng. Tôi sẽ kể về chiếc xe phá lấu của mẹ, về người anh đã cùng mẹ gánh vác gia đình, về những buổi bán đông khách khiến mẹ cười thật vui và những hôm mưa gió cả nhà phải cùng nhau giữ lấy tấm bạt.
Bởi với tôi, trước khi trở thành một sản phẩm, hàng Việt là mồ hôi, ký ức và niềm hy vọng của con người Việt. Trách nhiệm của người trẻ không chỉ là mua hàng Việt, mà còn là đồng hành để những người đang làm ra hàng Việt không bị bỏ lại phía sau trong chặng đường phát triển mới.
TÁC GIẢ: HUỲNH ANH THY 
  • Sinh năm: 2004
  • Trường Đại học Tài Chính – Marketing, ngành Quản trị Kinh doanh