Sáng nay, ngày 6/2/2026, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, 12 hiệp hội ngành hàng, cùng hơn 1.200 doanh nghiệp và chuyên gia tham gia theo cả hai hình thức trực tiếp và trực tuyến. Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh các quy định mới về an toàn thực phẩm vừa ban hành và triển khai trong thời gian ngắn đã phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn, đặt ra yêu cầu rà soát, đối thoại và chuẩn bị cho quá trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm.
Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao xin trân trọng ghi lại ý kiến nổi bật tại hội thảo, trên cơ sở tài liệu công bố và phát biểu trực tiếp.
Đại diện đơn vị tổ chức phát biểu đề dẫn, ông Đậu Anh Tuấn – Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề thiết yếu và có tính chiến lược hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, nó cũng tác động quan trọng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam và khả năng hội nhập quốc tế. Chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn tác động sâu rộng đến toàn bộ chuỗi sản xuất – kinh doanh – tiêu dùng của nền kinh tế.
Trong thời gian vừa qua, việc Chính phủ ban hành Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP thể hiện nỗ lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hướng đến việc siết chặt các lỗ hổng, tăng cường trách nhiệm trong sản xuất và phân phối thực phẩm. Tuy nhiên, như nhiều hiệp hội và doanh nghiệp đã phản ánh, quá trình triển khai các quy định mới trong hơn 1 tuần vừa qua đã xuất hiện những khó khăn nhất định, từ thời gian chuyển tiếp ngắn, quy trình kiểm tra phức tạp hơn, cho đến việc thiếu các hướng dẫn cụ thể trong thực thi. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp chưa kịp hiểu rõ nội dung thay đổi giữa Nghị định 46, Nghị quyết 66 so với Nghị định 15/2018 – và chưa đánh giá hết được các chi phí bổ sung, các yêu cầu kỹ thuật mới sẽ tác động thế nào đến hoạt động sản xuất, nhập khẩu, lưu thông hàng hóa.
Chính vì vậy, VCCI tổ chức hội thảo hôm nay với hai mục tiêu rõ ràng. Thứ nhất, cung cấp thông tin cập nhật, phân tích các nội dung thay đổi lớn trong các quy định mới; giúp doanh nghiệp hiểu kỹ hơn về các yêu cầu thực thi mới, từ đó đánh giá đúng các tác động về chi phí, thủ tục và điều kiện vận hành. Thứ hai, tạo ra diễn đàn để thảo luận về cách thức triển khai Nghị định 46 và Nghị quyết 66 hiệu quả nhất – đồng thời lắng nghe những phản ánh từ thực tiễn, để nếu cần, có thể kiến nghị Chính phủ, bộ ngành liên quan rà soát, điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng đóng góp vào quá trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm thời gian tới.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Dưới góc nhìn của VCCI các quy định về quản lý an toàn thực phẩm như NĐ 46 và NQ 66 và sắp tới là Luật An toàn thực phẩm cần đi theo các định hướng sau:
Thứ nhất, quản lý theo rủi ro và hậu kiểm, không dàn trải: Chính sách cần tập trung vào các mắt xích có nguy cơ cao, thay vì kiểm tra tràn lan. Các thủ tục mới chỉ nên được ban hành nếu chứng minh được hiệu quả rõ ràng trong bảo vệ an toàn thực phẩm, đồng thời không gây đứt gãy chuỗi cung ứng hay tăng chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
Thứ hai, quản lý hệ thống thay vì chỉ quản lý sản phẩm: Cần chuyển từ mô hình quản lý “đăng ký – kiểm nghiệm từng sản phẩm” sang quản lý toàn diện theo chuỗi giá trị thực phẩm – từ trang trại đến bàn ăn. Việc này đòi hỏi áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO, GMP và các quy trình truy xuất nguồn gốc, kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Thứ ba, tăng cường năng lực thực thi tại địa phương: Các địa phương cần có đủ nhân lực, chuyên môn, ngân sách và thời gian để triển khai chính sách một cách hiệu quả, đồng bộ, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu và làm một kiểu, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số và liên thông dữ liệu: Cần đẩy mạnh việc số hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất giữa các cơ quan quản lý để tăng tính minh bạch, giảm thiểu thủ tục chồng chéo, nâng cao hiệu quả kiểm tra và truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao
Đại diện Hiệp hội DN HVNCLC, bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch Hiệp hội phát biểu: “Tôi có dịp tổng hợp ý kiến từ nhiều doanh nghiệp trong những ngày vừa qua và nhận thấy tâm trạng chung hiện nay khá đặc biệt. Sau gần mười ngày bị ách tắc do các quy định mới, đến trưa hôm qua doanh nghiệp mới được “giải cứu”, vì vậy cảm xúc trước mắt là nhẹ nhõm và mừng rỡ. Mọi người đang dồn sức xử lý những lô hàng tồn đọng, khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau niềm vui ngắn hạn đó vẫn tồn tại một luồng lo âu rất lớn: sau thời hạn tạm dừng đến ngày 15/4, nếu trừ đi các ngày nghỉ Tết và cuối tuần, chúng ta chỉ còn khoảng 45 ngày làm việc để chuẩn bị quay lại thực hiện Nghị định 46. Khoảng thời gian này quá ngắn để có thể giải quyết những vấn đề mang tính hệ thống.
“Qua trao đổi, tôi thấy doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến bốn vấn đề. Thứ nhất, tinh thần của Nghị định 46 dường như đi ngược lại các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như phù hợp thông lệ quốc tế, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh. Thứ hai, nghị định còn xa thực tế vận hành của doanh nghiệp, gây thiệt hại rõ ràng trong thời gian qua và sau ngày 15/4 sự hoang mang, lúng túng rất có thể sẽ tiếp tục. Thứ ba, nhiều quy định không tương thích với năng lực thực thi của địa phương, trong khi đây lại là mắt xích quyết định. Thứ tư, cách tiếp cận quản lý chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong bối cảnh xuất nhập khẩu đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu GDP.
“Khi so sánh giữa dự thảo Nghị quyết 09 và văn bản ban hành chính thức, tôi chú ý đến khoản 2 Điều 3 quy định các bộ ngành và địa phương phải bảo đảm điều kiện để triển khai Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13. Nhưng trên thực tế, việc chuẩn bị này gần như không có đủ thời gian. Làm sao trong vài chục ngày có thể giải quyết được những vấn đề từ tư duy lập pháp, kỹ thuật quản lý cho tới việc phối hợp với các cơ quan nước ngoài – nơi xuất khẩu hàng vào Việt Nam? Vì vậy tôi chỉ có một kiến nghị trọng tâm.
“Tháng 5 tới, Quốc hội sẽ bắt đầu xem xét sửa đổi Luật An toàn thực phẩm. Chúng ta đều hiểu quy trình làm luật có thể kéo dài. Bài học thực tế vừa qua cho thấy: trước đây Cục An toàn thực phẩm thường xuyên tham vấn các hiệp hội, tôi cũng tham gia đầy đủ, nhưng từ khoảng tháng 8/2025 đột ngột dừng lại, không còn đối thoại. Từ bản dự thảo thứ 8 đến khi Nghị định 46 được ban hành ngày 26/1 là một “khoảng trống” mà cộng đồng doanh nghiệp không hề được cập nhật. Chính sự thiếu minh bạch đó dẫn tới cú sốc vừa rồi.
“Do đó, tôi đề nghị từ nay, đặc biệt là sau ngày 15/4/2026 cho đến khi Luật An toàn thực phẩm mới được ban hành, cần thiết lập một đầu mối đối thoại thường trực – có thể do VCCI phối hợp với Ban Pháp chế chủ trì – để duy trì cơ chế tham vấn định kỳ với tất cả hiệp hội ngành hàng thực phẩm. Đầu mối này sẽ liên tục thu thập phản ánh thực tế, kể cả những vấn đề mới phát sinh mà hiện nay chúng ta chưa lường hết, nhằm vừa bảo đảm hoạt động kinh doanh không bị đứt gãy, vừa đóng góp trực tiếp cho quá trình xây dựng luật.
“Tôi cho rằng giai đoạn từ 15/4 trở đi sẽ chứng kiến nhiều thay đổi lớn, kể cả việc hình thành Chính phủ nhiệm kỳ mới. Liệu Nghị định 46 có tiếp tục được áp dụng nguyên trạng hay không, và những yêu cầu chuẩn bị theo Nghị quyết 09 có còn phù hợp với tiến trình sửa luật sắp tới? Nếu không điều chỉnh cách tiếp cận, chúng ta có thể giải quyết được tắc nghẽn trước mắt nhưng sẽ lại phát sinh những nút thắt mới, mang tính căn bản hơn, liên quan đến chất lượng làm luật và triết lý quản lý.
“Vì vậy, tôi tha thiết đề nghị phải duy trì cơ chế tham vấn mở với hiệp hội, doanh nghiệp và cả giới truyền thông. Ngay cả khi chưa được mời, cộng đồng doanh nghiệp cũng sẽ chủ động thực hiện vai trò phản biện của mình. Tôi tin rằng Nhà nước và Đảng vẫn kiên định với các nghị quyết lớn 66 và 68 của Bộ Chính trị; do đó chính sách về an toàn thực phẩm cần được điều chỉnh để quán triệt đúng tinh thần đó, thay vì đi ngược lại như những gì Nghị định 46 đang thể hiện”.
Bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao, tham dự và phát biểu tại hội thảo qua kênh trực tuyến từ đầu cầu TP.HCM.
Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham)
AmCham Việt Nam cho rằng Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đang tạo ra nhiều vướng mắc lớn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống. Bất cập nổi bật đầu tiên là yêu cầu nguyên liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất nội bộ vẫn phải thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm trước thông quan và phải công bố hợp quy đối với phụ gia, bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm. Quy định này làm kéo dài thời gian thông quan, khiến doanh nghiệp thiếu nguyên liệu, gián đoạn sản xuất và có nguy cơ phải dừng hoạt động. AmCham kiến nghị miễn công bố hợp quy đối với các nguyên liệu nhập khẩu chỉ phục vụ sản xuất nội bộ, không lưu thông ra thị trường.
Vấn đề thứ hai là yêu cầu cung cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP cho hàng nhập khẩu. Doanh nghiệp nước ngoài hầu như không thể đáp ứng loại giấy phép mang tính đặc thù của Việt Nam, dẫn tới hồ sơ bị ách tắc, tạo rào cản thương mại không phù hợp thông lệ quốc tế. Ngay cả doanh nghiệp trong nước đã áp dụng các hệ thống quản lý được quốc tế công nhận như HACCP, ISO 22000, FSSC 22000 vẫn phải xin thêm giấy phép trong nước, làm tăng chi phí và thời gian. AmCham đề nghị chấp nhận các chứng nhận quốc tế tương đương thay cho giấy chứng nhận trong nước.
Tình trạng thực thi không thống nhất giữa các địa phương cũng gây nhiều hệ quả. Một số nơi tạm dừng xử lý hồ sơ còn hiệu lực, yêu cầu doanh nghiệp làm lại từ đầu; quy định về nhãn và quảng cáo bị áp dụng khác nhau, khiến kế hoạch sản xuất – tung sản phẩm bị gián đoạn, phát sinh chi phí in ấn, lưu kho và đứt gãy chuỗi cung ứng. AmCham đề xuất cho phép tiếp tục xử lý các hồ sơ tự công bố còn hiệu lực trong giai đoạn chuyển tiếp, đồng thời có chỉ đạo thống nhất toàn quốc và miễn giấy phép quảng cáo 24 tháng đối với nhóm thực phẩm bổ sung có công bố sức khỏe.
Về cơ chế chuyển tiếp, thời hạn 12 tháng để làm lại toàn bộ hồ sơ công bố dù công thức sản phẩm không thay đổi bị đánh giá là không khả thi, gây quá tải cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý, làm tăng chi phí kiểm nghiệm và nguy cơ tắc nghẽn hệ thống. AmCham kiến nghị kéo dài thời gian chuyển tiếp lên 24 tháng, cho phép bổ sung hồ sơ bằng hình thức thông báo thay vì nộp mới hoàn toàn.
Đối với quy định đăng ký bản công bố theo Nghị quyết 66, AmCham nhận thấy nhiều yêu cầu chồng chéo, hồ sơ phức tạp, chưa dựa trên quản lý rủi ro và không phù hợp cam kết WTO. Riêng nhóm thực phẩm bảo vệ sức khỏe bị áp dụng cách tiếp cận gần với dược phẩm là chưa hợp lý, trong khi nhiều nước chỉ quản lý ở mức hậu kiểm. Thời gian đăng ký 1–2 năm sẽ làm giảm khả năng tiếp cận sản phẩm chất lượng của người tiêu dùng. AmCham đề nghị kéo dài chuyển tiếp đối với nhóm này lên 48 tháng, sửa đổi luật theo hướng hài hòa ASEAN, phân loại theo mức độ rủi ro và giảm chồng chéo giữa các giấy phép.
Cuối cùng, AmCham đề nghị Cục An toàn Thực phẩm sớm ban hành sổ tay hướng dẫn hồ sơ, cho phép bổ sung vào bộ hồ sơ đã nộp thay vì nộp lại từ đầu, và bảo đảm hiệu lực của các số đăng ký đã cấp trong giai đoạn chuyển tiếp. Các điều chỉnh này sẽ giúp tháo gỡ ách tắc thủ tục, bảo đảm môi trường kinh doanh ổn định, phù hợp thông lệ quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.
Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham)
Tiểu ban Thực phẩm Dinh dưỡng của EuroCham khẳng định luôn ủng hộ Chính phủ Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật tiên tiến, hội nhập quốc tế nhằm tăng cường an toàn thực phẩm (ATTP) và thúc đẩy sản xuất – kinh doanh. EuroCham đánh giá cao việc Chính phủ đã cầu thị và nhanh chóng tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đến ngày 15/4/2026. Tuy nhiên, việc tạm ngưng này mới chỉ giải quyết được vấn đề thiếu thời gian chuyển tiếp, còn nhiều vướng mắc cốt lõi vẫn tồn tại, khiến cộng đồng doanh nghiệp lo ngại nguy cơ rối loạn sau thời điểm trên, đặc biệt khi Luật ATTP đang được sửa đổi và dự kiến ban hành nghị định mới trong thời gian rất ngắn.
Đối với Nghị định 46, EuroCham cho rằng quy định kiểm tra thực phẩm nhập khẩu đang làm gia tăng mạnh mức độ và tầng nấc kiểm soát: từ kiểm hồ sơ chuyển sang kiểm hồ sơ kèm kiểm nghiệm mẫu; mở rộng sang cả nguyên liệu, phụ gia, bao bì dùng cho sản xuất nội bộ; quy trình từ 2 cấp thành 3 cấp trong khi số cơ sở kiểm nghiệm lại giảm. Hệ quả là thời gian thông quan kéo dài, nguy cơ ùn tắc rất lớn, đặc biệt với thực phẩm tươi sống không thể chờ 9–10 ngày kiểm nghiệm. EuroCham nhận định việc siết chặt này không thực sự giúp cải thiện ATTP, bởi các vụ việc vi phạm thời gian qua chủ yếu không xuất phát từ hàng nhập khẩu.
Một bất cập khác là doanh nghiệp đã có các chứng nhận quốc tế như ISO, HACCP, FSSC vẫn phải xin thêm Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP trong nước, gây lãng phí thời gian và chi phí. Quy định công bố hợp quy chỉ có giá trị tối đa 3 năm, buộc doanh nghiệp liên tục thay đổi nhãn mác, gây tốn kém và khó truy xuất nguồn gốc. Yêu cầu đăng ký hợp quy đối với nguyên liệu, phụ gia, bao bì dùng cho sản xuất nội bộ cũng bị đánh giá là không cần thiết, không mang lại giá trị gia tăng cho quản lý ATTP. Ngoài ra, quy định về truy xuất nguồn gốc tại NĐ 46 vượt quá phạm vi của Luật ATTP khi yêu cầu kết nối dữ liệu đối với mọi sản phẩm dù an toàn hay không.
Với Nghị quyết 66, EuroCham lo ngại nguy cơ tắc nghẽn nghiêm trọng do thủ tục đăng ký bản công bố quá phức tạp, thời gian thẩm định kéo dài trong khi năng lực chuyên môn ở cấp địa phương còn hạn chế. Việc yêu cầu toàn bộ sản phẩm đã được cấp số đăng ký phải đăng ký lại dẫn tới lãng phí lớn và nguy cơ quá tải với hàng chục nghìn hồ sơ trong 12–24 tháng. Quy định loại bỏ phòng kiểm nghiệm quốc tế cũng không phù hợp thực tế, bởi nhiều chỉ tiêu Việt Nam chưa thực hiện được; riêng sữa công thức có thể phải xin hai giấy phép theo cả NĐ 46 và NQ 66.
Từ kinh nghiệm quốc tế, EuroCham nhấn mạnh hầu hết các nước không yêu cầu đăng ký thực phẩm theo cơ chế tiền kiểm, mà quản lý dựa trên hệ thống tiêu chuẩn như HACCP, ISO, tiếp cận theo rủi ro, hậu kiểm, số hóa dữ liệu và cảnh báo nhanh. EuroCham kiến nghị bỏ NĐ 46 và NQ 66, tiếp tục áp dụng NĐ 15 trong giai đoạn chờ sửa Luật ATTP; cải cách theo tinh thần Nghị quyết 68/NQ-TW, chuyển mạnh sang hậu kiểm dựa trên rủi ro; công nhận các tiêu chuẩn quốc tế; số hóa dữ liệu; bảo đảm năng lực thực thi của địa phương và dành thời gian chuyển tiếp hợp lý để doanh nghiệp thích ứng. Những định hướng này sẽ giúp bảo đảm mục tiêu ATTP đồng thời không gây đứt gãy chuỗi cung ứng và môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Dù tổ chức vào những ngày cuối năm, Hội thảo bất ngờ thu hút sự quan tâm của đông đảo các doanh nghiệp.
Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM (FFA)
Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM (FFA) khẳng định cộng đồng doanh nghiệp hoàn toàn ủng hộ mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, bởi uy tín và sự tồn tại của ngành gắn trực tiếp với niềm tin người tiêu dùng. Tuy nhiên, FFA cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở mục tiêu quản lý mà ở cách tiếp cận chính sách và khả năng thực thi khi triển khai Nghị định 46 và Nghị quyết 66. Việc các quy định mới có hiệu lực đột ngột đã khiến doanh nghiệp và cơ quan địa phương lúng túng, hàng loạt lô hàng bị dừng tại cửa khẩu, nhiều doanh nghiệp không biết căn cứ nào để thông quan.
Điều này cho thấy nguyên tắc về “thời gian khởi động của pháp luật” chưa được bảo đảm, dẫn đến nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.
FFA đặc biệt lo ngại về năng lực thực thi ở cấp địa phương. Hai văn bản trên giao thêm khối lượng công việc rất lớn cho các sở ngành: thẩm định hồ sơ kỹ thuật phức tạp, xác định chỉ tiêu kiểm nghiệm, lấy mẫu, phối hợp kiểm tra và cấp nhiều loại giấy xác nhận. Đây không chỉ là tăng số lượng thủ tục mà còn đòi hỏi chuyên môn sâu, nhân lực đạt chuẩn và hệ thống phòng kiểm nghiệm tương xứng. Trong bối cảnh nhiều địa phương đang tinh giản biên chế, việc bổ sung nhiệm vụ mà chưa đánh giá đầy đủ nguồn lực là rủi ro lớn.
Hiệp hội cũng đặt câu hỏi liệu bộ máy có đáp ứng nổi khi khối lượng kiểm tra mở rộng mạnh. Nếu nguồn lực không được tăng tương ứng, việc kiểm tra dễ trở nên hình thức và gây quá tải. Trong khi đó, thông lệ quốc tế đã chuyển sang hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro, tập trung vào nhóm sản phẩm và doanh nghiệp có nguy cơ cao thay vì tiền kiểm dàn trải. Nhiều quy định hiện hành bị đánh giá chưa tiệm cận thông lệ này, làm tăng chi phí tuân thủ và giảm tính dự báo của môi trường đầu tư.
Từ thực tiễn đó, FFA kiến nghị Chính phủ không chỉ gia hạn thời gian áp dụng mà cần rà soát, sửa đổi căn cơ cả Nghị định 46 và Nghị quyết 66. Trọng tâm phải là chuyển mạnh sang hậu kiểm thực chất, giảm thủ tục tiền kiểm hình thức và chỉ triển khai khi năng lực thực thi địa phương đã được chuẩn bị tương xứng.
Về dài hạn, FFA đề nghị ưu tiên đẩy nhanh sửa đổi Luật ATTP và xây dựng hệ thống nghị định ổn định, đồng bộ; tránh tình trạng khung luật chưa hoàn thiện nhưng văn bản dưới luật liên tục thay đổi gây xáo trộn cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Hiệp hội tin rằng với cách tiếp cận dựa trên thực tiễn và quản lý rủi ro, Việt Nam có thể vừa bảo đảm mục tiêu an toàn thực phẩm, vừa duy trì môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và bền vững cho ngành thực phẩm.
Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT)
AFT cho rằng Nghị định 46/2026 đã tạo ra nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng so với thông lệ quốc tế và các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết. Thực tế phát sinh ngay sau khi nghị định có hiệu lực cho thấy hàng loạt lô hàng nhập khẩu dù đã có đầy đủ chứng nhận quốc tế vẫn không thể thông quan. Trường hợp điển hình là lô hàng hữu cơ từ Ấn Độ qua sân bay Nội Bài: doanh nghiệp đã có chứng nhận hữu cơ, có lịch sử xuất khẩu ổn định vào Việt Nam, nhưng hải quan vẫn yêu cầu phải có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm do cơ quan nhà nước nước xuất khẩu cấp và buộc lấy mẫu kiểm nghiệm. Tuy nhiên, trong danh sách 34 phòng kiểm nghiệm được chỉ định lại không đơn vị nào nhận mẫu do chưa có hướng dẫn cụ thể; các chỉ tiêu kiểm nghiệm theo yêu cầu của Bộ Y tế phức tạp, thiếu rõ ràng và khác biệt với chuẩn quốc tế.
Theo AFT, cách tiếp cận này đi ngược lại nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm dựa trên phân tích mối nguy và kiểm soát quá trình (HACCP) mà Ủy ban Codex Alimentarius đã khuyến nghị từ năm 1997. Việt Nam đã tham gia hơn 20 FTA và các bên đều thống nhất áp dụng tiêu chuẩn Codex cho lĩnh vực thực phẩm. Thông lệ quốc tế cho thấy khi doanh nghiệp đã có chứng nhận HACCP, ISO 22000, GlobalGAP…, nước nhập khẩu chủ yếu kiểm tra hồ sơ và chỉ lấy mẫu định kỳ hoặc với lô hàng có rủi ro cao. Việc áp dụng tiền kiểm 100% như hiện nay là không cần thiết, làm tăng chi phí và thời gian nhưng chưa chắc cải thiện mức độ an toàn.
AFT nhấn mạnh hệ thống chứng nhận đạt chuẩn và phòng kiểm nghiệm độc lập là cấu phần quan trọng của chuỗi kiểm soát an toàn thực phẩm. Các giấy chứng nhận do tổ chức độc lập cấp theo ISO 17025, cùng kết quả kiểm nghiệm của nhà sản xuất, cần được thừa nhận như bằng chứng chính về an toàn của lô hàng. Việc nhà nước “ôm hết” khâu kiểm tra, mở rộng tiền kiểm sẽ làm suy yếu cơ chế thị trường và không phù hợp với cam kết hội nhập.
Từ đó, AFT đề xuất sửa đổi Nghị định 46 để phù hợp các FTA và trình tự pháp luật; bắt buộc tham vấn đầy đủ đối tượng chịu tác động trước khi ban hành. Cần công nhận các chứng nhận theo chuẩn Codex của nước xuất khẩu, giảm yêu cầu kiểm nghiệm trùng lặp; chuyển mạnh sang hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro thay vì tiền kiểm dàn trải. Đồng thời phải có thời gian chuyển tiếp hợp lý, tổ chức đào tạo và hướng dẫn cho cơ quan cửa khẩu và địa phương để bảo đảm thực thi thống nhất. Theo AFT, chỉ với cách tiếp cận này Việt Nam mới vừa bảo đảm an toàn thực phẩm, vừa duy trì thông suốt thương mại và tuân thủ các cam kết quốc tế.
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA)
VPSA cho rằng việc áp dụng Nghị định 46 đối với ngành hồ tiêu và gia vị khô đang bộc lộ nhiều điểm không phù hợp với đặc thù thương mại và thông lệ quốc tế. Hồ tiêu và gia vị là nhóm sản phẩm thực vật khô, rủi ro an toàn thực phẩm thấp, đã được giao thương toàn cầu trong thời gian dài với chuỗi cung ứng mang tính thương mại cao, luân chuyển nhanh và phổ biến mô hình mua bán qua thương nhân, kho trung chuyển, tái xuất. Nhiều quốc gia hiện không cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm (Health Certificate) cho gia vị khô dù sản phẩm vẫn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, việc áp dụng đồng loạt cơ chế quản lý thiết kế cho nhóm thực phẩm rủi ro cao như thịt, thủy sản đối với gia vị khô là chưa phù hợp.
Hiệp hội đặc biệt quan ngại quy định tại Điều 10 của Nghị định 46 khi yêu cầu đồng thời ba điều kiện: quốc gia xuất khẩu phải được Việt Nam chấp thuận; cơ sở sản xuất nước ngoài phải được Việt Nam công nhận; và mỗi lô hàng phải có giấy chứng nhận ATTP của nước xuất khẩu. Các yêu cầu này khó khả thi trong thực tế giao dịch hồ tiêu – gia vị, nơi hoạt động mua bán qua nhiều khâu trung gian là phổ biến. Cơ chế đăng ký và thẩm định tại Điều 28 quá dài và phức tạp, phù hợp cho sản phẩm động vật nhưng không tương thích với đặc điểm gia vị khô.
Một vấn đề cấp bách khác là xử lý hàng xuất khẩu bị trả về. Nếu áp dụng cứng quy định hiện hành, các lô hàng bị trả về sẽ không đủ điều kiện chuyển sang tiêu thụ nội địa, khiến doanh nghiệp mất hoàn toàn phương án xử lý rủi ro thương mại. VPSA kiến nghị không coi hàng trả về là “hàng nhập khẩu thông thường”, cho phép tiêu thụ nội địa khi đáp ứng quy chuẩn và có hướng dẫn thống nhất để giảm thiểu thiệt hại.
Về phương thức quản lý, VPSA đề xuất chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên rủi ro: giảm hồ sơ hành chính hình thức, tập trung vào kết quả kiểm nghiệm, lịch sử tuân thủ và truy xuất nguồn gốc; phân loại doanh nghiệp theo mức độ rủi ro. Hiệp hội cũng đề nghị công nhận các chứng chỉ quốc tế như ISO, HACCP, GMP thay cho một số yêu cầu nội địa mang tính thủ tục.
Trong giai đoạn chuyển tiếp đến 15/4/2026, VPSA đề nghị các bộ ngành tổ chức đối thoại chuyên đề với ngành hồ tiêu – gia vị để hoàn thiện quy định trước khi áp dụng trở lại. Hiệp hội khẳng định không phản đối mục tiêu bảo đảm ATTP mà mong muốn cùng Chính phủ xây dựng cách tiếp cận phù hợp đặc thù ngành hàng, hài hòa cam kết hội nhập, giúp doanh nghiệp duy trì ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

VCCI đề xuất 4 định hướng lớn cho quản lý an toàn thực phẩm

HH DNHVNCLC lược ghi
Ngày đăng: 6/2/2026