– BÀI THAM DỰ CUỘC THI VIẾT: HÀNG VIỆT TRONG MẮT NGƯỜI TRẺ
Trên vỏ hộp Dầu gió 6 ml có tên sản phẩm và một tờ hướng dẫn đi kèm. Chỉ không có dòng nào ghi rằng để đi hết các bước sử dụng, người dùng có thể cần thêm một người.
Chai dầu trước mặt ngoại tôi còn mới. Ngoại đã đeo kính. Bà giữ thân chai trong lòng bàn tay, xoay thử chiếc nắp nhỏ rồi đưa sang cho tôi. Đến tờ hướng dẫn, bà thay đổi khoảng cách giữa tờ giấy và mắt vài lần, nhìn qua những dòng chữ rồi nhờ tôi đọc phần cách dùng. Sau khi tôi mở nắp và giải thích, ngoại nhận lại chai, tự dùng và tự đóng nắp.
Không có một thất bại rõ ràng nào. Nắp cuối cùng vẫn mở, hướng dẫn cuối cùng vẫn được hiểu, chai dầu cuối cùng vẫn được dùng. Nếu chỉ nhìn kết quả, sản phẩm đã hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng nếu nhìn cả đường đi, tôi đã trở thành một bộ phận không có trong thiết kế.
Bà dùng được, nhưng trong lần ấy chưa thể tự mình đi hết các bước sử dụng. Khoảng cách giữa hai điều ấy chính là câu hỏi tôi muốn đặt ra cho chất lượng hàng Việt.
Tôi không dùng một lần thử trong gia đình để kết luận cho mọi người lớn tuổi, càng không dùng nó để quy lỗi cho doanh nghiệp. Khi tìm trong danh sách 581 doanh nghiệp được người tiêu dùng bình chọn Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao năm 2026, tôi dừng lại ở tên doanh nghiệp làm ra sản phẩm. Tôi chọn chai dầu vì một sản phẩm quen thuộc, đi qua nhiều thế hệ, sẽ cho thấy chất lượng có đi cùng được nhiều thế hệ hay không.
Là sinh viên Kỹ thuật hóa học, tôi quen với những quy trình mà mọi yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đều phải được nhận diện. Trong lần ngoại dùng chai dầu, biến số ẩn ấy là tôi. Đôi mắt tôi đọc thay. Bàn tay tôi mở giúp. Lời giải thích của tôi nối phần hướng dẫn với người cần dùng nó.
Người thứ hai ấy không được tính vào giá bán và cũng không có tên trên bao bì. Khi chai dầu vẫn được sử dụng, những lần phải nhờ dễ biến mất khỏi kết quả. Nhưng mỗi lần nhờ là một phần quyền tự chủ của người dùng được gửi sang người khác.
Người trẻ như tôi không chỉ chọn hàng cho mình. Nhiều khi, chúng tôi còn mở, đọc và giải thích sản phẩm cho cả gia đình.
Cái chai 6 ml có lý do để nhỏ. Nó gọn, dễ mang theo và chỉ cần dùng một lượng ít. Nhưng kích thước nhỏ cũng đặt ra một bài toán lớn hơn. Nắp phải đủ kín nhưng vẫn thuận tiện khi thao tác. Vỏ hộp và tờ hướng dẫn phải giúp người dùng tìm được điều cần biết, chứ không chỉ giúp nhà sản xuất chứa đủ chữ. Chất lượng không dừng ở việc có thông tin. Nó còn nằm ở việc người cần thông tin có thể tự tiếp cận được hay không.
Ba mươi năm của Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao cũng là ba mươi năm người tiêu dùng thay đổi. Ba mươi năm ấy đi qua đôi mắt, bàn tay và tuổi của họ. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Việt Nam được dự báo bước vào giai đoạn dân số già vào năm 2036. Nếu sản phẩm ngày càng hiện đại nhưng một bộ phận người dùng ngày càng phải dựa vào con cháu để mở, đọc và hiểu, sự đổi mới ấy vẫn còn một khoảng trống.
Từ trải nghiệm này, tôi hình dung một cách thử đơn giản mà tôi gọi là “chiếc ghế trống”.
Doanh nghiệp đặt sản phẩm trước người thử và để chiếc ghế bên cạnh không có ai ngồi. Người quan sát đứng ngoài quá trình. Người dùng tự thực hiện bốn việc: mở sản phẩm, tìm thông tin quan trọng, nói lại cách dùng, rồi đóng để bảo quản. Thời điểm họ phải hỏi, phải đưa sản phẩm cho người khác hoặc không thể đi tiếp được ghi lại.
Phép thử không chấm ai nhanh hơn ai. Nó chỉ trả lời một câu hỏi: sản phẩm bắt đầu cần người ngồi vào chiếc ghế ấy ở đâu. Đó là “điểm cần trợ giúp”, có thể nằm ở thao tác mở nắp, cỡ chữ, độ tương phản hoặc cách sắp xếp hướng dẫn. Chiếc ghế trống biến một sự bất tiện dễ bị bỏ qua thành dữ liệu mà doanh nghiệp có thể nhìn thấy.
Phép thử cũng không đánh đổi an toàn lấy thuận tiện. Một chiếc nắp có thể cần cơ chế bảo vệ, một hướng dẫn có thể buộc phải chứa cảnh báo. Thiết kế tốt phải giữ được cả hai và cho người dùng biết mình cần làm gì bằng hình thức rõ ràng.
Nếu điểm cần trợ giúp nằm ở thao tác mở nắp, doanh nghiệp có thể xem xét độ bám, lực xoay hoặc cách giúp người dùng nhận biết thao tác mở. Nội dung thiết yếu có thể được ưu tiên bằng cỡ chữ và độ tương phản tốt hơn. Tờ hướng dẫn có thể chia thông tin theo thứ tự người dùng thực sự cần. Mã QR hoặc hướng dẫn bằng âm thanh chỉ nên là lớp hỗ trợ, không phải con đường duy nhất.
Theo tôi, để quan tâm đến vấn đề này, Chương trình Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao không nhất thiết phải tạo thêm một chứng nhận mới. Trong chặng đường 30 năm tiếp theo, chương trình có thể khuyến khích doanh nghiệp đưa thêm những nhóm người dùng ở các độ tuổi khác nhau vào quá trình thử nghiệm sản phẩm, ghi nhận người dùng cần trợ giúp ở đâu và thiết kế có thể thay đổi như thế nào.
Bên cạnh câu hỏi người tiêu dùng có chọn sản phẩm hay không, có lẽ cũng nên thêm một câu hỏi: họ có thể tự sử dụng sản phẩm hay không?
Người trẻ thường được kỳ vọng chỉ cho hàng Việt con đường đi tới tương lai. Nhưng ngoại lại cho tôi một thước đo khác. Tôi muốn mua hàng Việt cho bà không chỉ vì thành phần tốt, thương hiệu quen hay giá hợp lý. Tôi còn muốn ngoại giữ được quyền tự mở, tự đọc và tự dùng, kể cả khi tôi không có ở nhà.
Mục tiêu không phải tìm thêm một người để ngồi vào chiếc ghế ấy. Mục tiêu là thiết kế để chiếc ghế có thể để trống. Ngày đó, chai dầu mới thật sự nằm trọn trong tay ngoại tôi.
TÁC GIẢ: TRƯƠNG QUANG BÌNH
  • Sinh năm: 2005
  • Sinh viên ngành Kỹ thuật hóa học, Trường Đại học Dầu khí Việt Nam