Sau giờ khai mạc, các dự án Bảng A tại vòng bán kết Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 – năm 2026 diễn ra tại Hội trường Văn khoa – Cơ sở 1, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM bắt đầu phần thi của mình. Trong các dự án buổi sáng, họ mang đến những nguyên liệu rất gần gũi với đời sống. Nhưng trước Hội đồng Giám khảo, câu hỏi không dừng ở việc sản phẩm có “xanh” hay không, mà đi sâu hơn, Ai sẽ mua, mua vì điều gì và sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường hay chưa?

Vòng bán kết khu vực phía Nam của Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 diễn ra từ ngày 18 đến 20/9 tại TP.HCM, với 39 dự án tham gia. Riêng Bảng A dành cho các ý tưởng, dự án ở giai đoạn đầu, nơi sản phẩm và mô hình kinh doanh còn tiếp tục được hoàn thiện.

Ở nhóm dự án được trình bày tại Bảng A, cây sen xuất hiện theo hai cách khác nhau, một bên là màng bọc sinh học có cảm biến màu, một bên biến thân sen thành vật liệu cách nhiệt. Mãng cầu xiêm được tận dụng để làm kẹo dinh dưỡng, trong khi hạt gạo IR50404 được đưa vào một sản phẩm bánh gạo mầm.

Phần hỏi đáp của giám khảo cho thấy, nguyên liệu tốt mới chỉ là điểm xuất phát của một dự án khởi nghiệp.

Khi cây sen bước ra khỏi ruộng đồng

Dự án “Sen Bảo” mang đến ý tưởng màng bọc sinh học từ sen, tích hợp cảm biến màu để cảnh báo tình trạng thực phẩm.

Thí sinh Trần Tín Dũng đại diện nhóm cho biết sản phẩm có cơ chế hỗ trợ kiểm soát vi sinh vật, hướng tới kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm từ khoảng 14 đến 25 ngày tùy loại. Lớp cảm biến màu được tạo từ hợp chất tự nhiên trong cây sen, trong đó nguồn sen được nhóm xác định từ Tiền Giang.

Với sản phẩm có cảm biến, giá bán dự kiến 45.000 đồng; phiên bản bỏ cảm biến còn 38.000 đồng. Nhóm cũng tính toán chi phí sản xuất khoảng 6,6 triệu đồng cho 1.000 m màng và kỳ vọng biên lợi nhuận có thể đạt 33-37%.

Nhưng ngay tại phần phản biện, bài toán khó xuất hiện. Một sản phẩm có khả năng bảo quản lâu hơn chưa chắc đồng nghĩa với việc thị trường cần thời gian bảo quản dài như vậy.

Giám khảo Ngô Đình Dũng – Giám đốc Công ty Tư vấn Giải pháp Quản trị Tổng thể ISM đặt vấn đề, doanh nghiệp thực phẩm có thực sự cần kéo dài thời gian bảo quản lên 14 ngày, hay nhu cầu thực tế chỉ khoảng 5-7 ngày?

Đây là câu hỏi quan trọng đối với nhóm, bởi nếu doanh nghiệp chỉ cần một tính năng đơn giản hơn, phần cảm biến màu có thể trở thành chi phí không cần thiết.

Từ đó, hướng đi được gợi mở khá rõ được giám khảo Trần Lan Anh – Co-founder/Strategic Advisor GreenHubAsia chia sẻ rằng, với B2B, nhóm có thể tập trung vào khả năng bảo quản, thậm chí bỏ cảm biến để giảm giá thành. Với B2C, cảm biến màu lại có thể trở thành điểm khác biệt để người tiêu dùng nhận biết tình trạng thực phẩm.

Bài toán của Sen Bảo vì thế không còn là “có công nghệ gì”, mà là công nghệ ấy có giải quyết đúng nhu cầu của từng người mua hay không.

“Phụ phẩm” có thể là nguyên liệu, nhưng chưa chắc là câu chuyện bán hàng

Cũng khai thác nông sản địa phương, Mộc Xiêm chọn một hướng khác, tận dụng phụ phẩm mãng cầu xiêm để làm kẹo dinh dưỡng.

Đại diện nhóm là Phan Văn Biên cho biết sản phẩm hướng tới nhóm trẻ em, trong bối cảnh nhu cầu bổ sung vi chất dinh dưỡng ngày càng được quan tâm.

Theo hồ sơ trình bày, 100 g sản phẩm có khoảng 11,5 mg vitamin C và hơn 4 g chất xơ. Sản phẩm đã được kiểm nghiệm tại Viện CASE và Viện Pasteur.

Giá bán dự kiến 25.000 đồng cho gói 100 g, trong khi nhóm xác định đối thủ trong phân khúc là Mộc Nam, với mức giá khoảng 70.000 đồng/100 g.

Thoạt nhìn, lợi thế giá có vẻ khá rõ.

Nhưng giám khảo Trần Lan Anh kéo câu chuyện về một yếu tố khác, trẻ em mua sản phẩm bằng cảm xúc nhiều hơn bằng bảng thành phần dinh dưỡng.

Một sản phẩm dành cho trẻ không thể chỉ nói rằng nó bổ dưỡng, nhiều chất xơ hay có giá hợp lý. Nó còn phải ngon, dễ ăn và đủ hấp dẫn để trẻ muốn ăn lần thứ hai.

Theo giám khảo Trần Nguyễn An Ninh, đây là một bài toán mà nhiều sản phẩm thực phẩm khởi nghiệp thường phải đối diện, người quyết định mua có thể là cha mẹ, nhưng người sử dụng lại là trẻ em. Vì thế, hai đối tượng này có thể có hai lý do hoàn toàn khác nhau để lựa chọn sản phẩm.

Một góp ý khác cũng đáng chú ý là cách gọi “phụ phẩm”.

Còn giám khảo Hồ Ngọc Phương Thảo, chuyên gia đánh giá chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực Nông nghiệp – Thực phẩm cho hay, về mặt sản xuất, đó có thể là nguồn nguyên liệu giúp giảm lãng phí. Nhưng trên bao bì và trong câu chuyện thương hiệu, từ “phụ phẩm” dễ khiến người tiêu dùng liên tưởng đến phần nguyên liệu đã bị loại bỏ hoặc mất đi giá trị.

Thay vì nhấn vào chữ “phụ phẩm”, nhóm được gợi ý kể câu chuyện từ nông sản Tiền Giang và Đắk Lắk. Đó là một thay đổi về ngôn ngữ, nhưng có thể dẫn đến thay đổi lớn trong cách người tiêu dùng nhìn sản phẩm.

Bánh gạo mầm và câu hỏi: sản phẩm này dành cho ai?

Từ An Giang, dự án “Bánh Gạo Mầm An – AnGrain Food” lại bắt đầu từ một loại nguyên liệu rất quen thuộc gạo IR50404.

Nhóm gồm một cô giáo Trần Thị Bé Chính và hai học sinh lựa chọn cách kích hoạt sinh học để hạt gạo nảy mầm, qua đó hướng tới gia tăng hàm lượng GABA. Bánh được tạo cấu trúc bằng lòng trắng trứng đánh bông, không sử dụng chất bảo quản hay bột nở hóa học. Nhóm cũng phối trộn trái cây và nông sản tự nhiên của địa phương. Thông điệp của dự án là đưa hạt gạo và nông sản địa phương từ phòng thí nghiệm đến bàn ăn.

Nhưng một lần nữa, giám khảo đưa dự án trở lại với hành vi người tiêu dùng.

Theo giám khảo Ngô Đình Dũng phản biện, bánh gạo trên thị trường thường được nhận diện bởi độ giòn và các vị mặn hoặc trung tính. Trong khi đó, sản phẩm của nhóm lại có cấu trúc xốp nhẹ, kết hợp vị ngọt trái cây. Như vậy, vấn đề không nhất thiết nằm ở việc sản phẩm có tốt hay không.

Vấn đề là người tiêu dùng có gọi đó là bánh gạo hay không, và họ có đang tìm kiếm đúng loại sản phẩm mà nhóm tạo ra hay không.

Một điểm khác cũng được thành viên ban giám khảo đặt ra bao bì hướng tới trẻ em, nhưng phần thuyết trình lại nhấn mạnh lợi ích dành cho người lớn, đặc biệt là người quan tâm đến đường huyết. Hai cách định vị này chưa thực sự gặp nhau.

Từ đây, nhóm được đặt trước một loạt việc phải làm. xác định lại khách hàng mục tiêu, nghiên cứu khẩu vị, cải thiện độ giòn và cân nhắc các dòng vị mặn hoặc trung tính.

Từ thân sen thành vật liệu – ý tưởng xanh phải chứng minh độ bền

Nếu Sen Bảo sử dụng sen để tạo ra sản phẩm tiêu dùng, dự án Selution lại nhìn vào phần thân sen sau thu hoạch. Đại diện nhóm là Đinh Thị Thùy Linh cho rằng thân sen thường bị bỏ đi, trong khi cấu trúc lõi thân sen có các khoảng không khí tự nhiên, có thể được tận dụng cho mục đích cách nhiệt.

Dự án phát triển tấm vật liệu đa lớp, kết hợp lõi thân sen với keo sinh học Chitosan, vải không dệt từ PET tái chế, lớp sáp chống thấm, lớp cản UV và lớp chống cháy.

Nhóm hướng tới việc thay thế một số vật liệu chống nóng sử dụng nhựa xốp và keo hóa học, đồng thời đặt mục tiêu Zero VOCs.

Tác động xã hội cũng được nhóm tính đến, với mục tiêu tận dụng khoảng 5 tấn thân sen thải mỗi năm và tạo thêm thu nhập cho người trồng sen.

Nhưng với một vật liệu xây dựng hoặc cách nhiệt, câu hỏi quan trọng nhất cuối cùng vẫn là độ bền.

Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí đặt vấn đề về khả năng liên kết giữa nhiều lớp vật liệu bằng keo sinh học, sau một hoặc hai năm sử dụng, các lớp có bị bong tróc hay không?

Nhóm thừa nhận sản phẩm vẫn đang trong quá trình thử nghiệm và tối ưu công thức trong phòng lab, trước khi tiến tới kiểm định chất lượng và thương mại hóa.

Đây cũng là điểm khác biệt giữa một ý tưởng có câu chuyện môi trường hấp dẫn và một sản phẩm có thể bước vào thị trường. Với vật liệu, người mua không chỉ cần biết nó xanh mà họ cần biết nó dùng được bao lâu, chịu được điều kiện nào và có ổn định trong suốt vòng đời sử dụng hay không.

Một số hình ảnh các đội thi, Ban giám khảo đánh giá:

Giám khảo đi tham quan thực tế tại gian hàng
Ông Hà Quốc Phong – Phó Giám đốc Công ty CP Cơ điện Tân Hoàn Cầu có mặt tham gian hàng
Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí chất vấn dự án thi
Giám khảo Ngô Đình Dũng chia sẻ về phân khúc khách hàng với dự án thi
Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh đặt câu hỏi về bài toán phân phối với dự án
Giám khảo Trần Lan Anh luôn phân tích những ưu điểm cho dự án thấy

Trần Quỳnh – Tường Anh